Thứ Tư, 14 tháng 6, 2017

Thơ Taras Shevchenko Việt - U


90=TIẾNG KHÓC CỦA YAROSLAVNA

Trên thành ở Putivl từ sáng sớm
Giọng của Yaroslavna
Nghe như giọng chim câu
Nức nở trong buổi sớm:
“Ta sẽ bay như chim hải âu
Theo miền sông Đông rộng lớn
Sẽ rửa ống tay áo màu trắng
Trên bờ sông Kayala
Lau vết thương đầy máu khô
Trên cơ thể của người đã chết
Và rửa sạch vết thương sâu
Nơi mũi giáo đâm vào cho công tước”.
******
Từ sáng sớm, Yaroslavna kêu la ai oán
Trên thành ở Putivl:
“Ôi gió, gió!
Tại vì sao gió thổi trái chiều?
Tại vì sao gió mang theo
Trên đôi cánh của mình
Những mũi tên quân giặc
Hướng về đội quân yêu dấu của ta?
Hay là ngươi còn chưa đủ
Những khi bay lượn trên mây
Khi ngươi mơn trớn vuốt ve
Những con tàu ở ngoài biển cả!
Vì sao ngươi mang niềm vui của ta
Rải lên cây vũ mâu hở gió?”

Yaroslavna kêu la ai oán
Trên thành ở Putivl từ sáng sớm:
“Ôi Dnepr Slovutich!
Ôi Dnepr mênh mông ánh bạc
Ngươi xuyên qua
Những ngọn núi đá
Qua đất Cuman.
Ngươi vỗ về
Những con thuyền Svyatoslav
Đến đội quân của Kobyak.
Hãy an ủi công tước giùm ta
Để người sớm quay về
Và để ta không còn tuôn nước mắt
Vào biển xanh kia”.

Yaroslavna kêu la ai oán
Trên thành ở Putivl từ sáng sớm
Khi mặt trời thần thánh vừa xuất hiện:
“Hỡi mặt trời, mặt trời ba lần sáng!
Ngươi dành cho tất cả mọi người
Tuyệt vời và nồng ấm
Thì tại sao ngươi lại đốt thiêu
Cỏ cây trên thảo nguyên và thung lũng
Và đốt thiêu những đội binh dũng cảm
Thì ngươi hãy giết luôn kẻ góa phụ này!
Xin đừng sáng nữa, đừng sưởi ấm
Công tước của ta đã chết rồi…
Và ta cũng chết đây!”
[1860]


90= Плач Ярославни

 

В  Путивлі-граді  вранці-рано  
Співає,
 плаче  Ярославна,  
Як
 та  зозуленька  кує,  
Словами
 жалю  додає.
«Полечу,—  каже,—  зигзицею  ,
Тією  чайкою-вдовицею,
Та  понад  Доном  полечу,
Рукав  бобровий  омочу
В  ріці  Каялі.  І  на  тілі,
На  княжім  білім,  помарнілім,
Омию  кров  суху,  отру  
Глибокії,
 тяжкії  рани...»  

І
 квилить,  плаче  Ярославна  
В
 Путивлі  рано  на  валу:  
«Вітрило-вітре
 мій  єдиний,  
Легкий,
 крилатий  господине!  
Нащо
 на  дужому  крилі  
На
 вої  любії  мої,  
На
 князя,  ладо  моє  миле,  
Ти
 ханові  метаєш  стріли?  
Не
 мало  неба,  і  землі,  
І
 моря  синього.  На  морі  
Гойдай
 насади-кораблі.  
А
 ти,  прелютий...  Горе!  Горе!  
Моє
 веселіє  украв,  
В
 степу  на  тирсі  розібгав».  

Сумує,
 квилить,  плаче  рано  
В
 Путивлі-граді  Ярославна.  
І
 каже:  «Дужий  і  старий,  
Широкий
 Дніпре,  не  малий!  
Пробив
 єси  високі  скали,  
Текучи
 в  землю  половчана,  
Носив
 єси  на  байдаках  
На
 половчан,  на  Кобяка  
Дружину
 тую  Святославлю!..  
О
 мій  Словутицю  преславний!  
Моє
 ти  ладо  принеси,  
Щоб
 я  постіль  весела-слала,  
У
 море  сліз  не  посилала,—  
Сльозами
 моря  не  долить».  

І
 плаче,  плаче  Ярославна  
В
 Путивлі  на  валу  на  брамі,  
Святеє
 сонечко  зійшло.  
І
 каже:  «Сонце  пресвятеє  
На
 землю  радість  принесло  
І
 людям,  і  землі,  моєї  
Туги-нудьги
 не  розвело.  
Святий,
 огненний  господине!  
Спалив
 єси  луги,  степи,  
Спалив
 і  князя,  і  дружину,  
Спали
 мене  на  самоті!  
Або
 не  грій  і  не  світи.  
Загинув
 ладо...  Я  загину!»  

4  іюня  [1860],  СП6



91=TỪ SÁNG TỚI CHIỀU

Từ sáng tới chiều,
Từ đêm đến sáng
Mũi tên nườm nượp bay
Tiếng gươm chặt vào mũ giáp,
Tiếng giáo mác kêu răng rắc
Trên miền thảo nguyên
Chưa quen biết của người Cuman.

Đất đen ở dưới chân ngựa
Trên đất vãi đầy xương
Máu xối rào rạt xuống bùn
Máu và xương ngập ngụa
Nỗi đau thương lơ lửng trên đồng
Nỗi đau thương tìm đất Nga bay đến.

Điều gì ầm ĩ, điều gì vang lên
Điều gì vang lên trước buổi bình minh?
Igor bắt đầu lui quân vì tiếc
Vì thương người em Vsevoslav.

Họ đã chiến đấu một ngày.
Họ đã chiến đấu hai ngày
Và đến giữa trưa ngày thứ ba
Những lá cờ của đội quân Igor đổ xuống.

Những người anh em bị bắt làm tù binh
Theo nhiều hướng trên bờ sông
Dòng sông Kayala chảy xiết
Bữa rượu máu ở đây thế là xong!
Những người Nga đã kết thúc bữa tiệc.
Những người mai mối đã say sưa
Họ nằm xuống vì đất Nga.
Hoa cỏ ủ rũ vì thương xót
Cây cối cũng cúi mình
Trên mặt đất đau buồn!
[1860]


91= З  передсвіта  до  вечора

З  передсвіта  до  вечора,  
А  з  вечора  до  досвіта  
Летить  стріла  каленая,  
Бряжчить  шабля  о  шеломи,  
Тріщать  списи  гартовані  
В  степу,  в  незнаємому  полі,  
Середи  землі  Половецької.  

Земля  чорна  копитами  
Поорана,  поритая;  
Костьми  земля  засіяна,  
А  кровію  политая.  
І  журба-туга  на  тім  полі  
Зійшла  для  Руської  землі.  

Що  гомонить  отам,  зичить  
Удосвіта?  То  повертає  
Той  Ігор  військо  на  пригоду  
Тому  буй  туру  Всеволоду.  

І  бились  день,  
І  другий  билися,  
Та  коло  полудня  на  третій  
Поникли  Ігореві  стязі.  

Отак  на  березі  Каяли  
Брати  різнились;  бо  не  стало  
Крові-вина!..  Допировали  
Хоробрі  русичі  той  пир,  
Сватів  упоїли,  
А  самі  простяглися  
За  землю  Руськую.  Хилилась  
І  слалась,  плачучи,  трава;  
Високі  гнулись  дерева...  
Додолу  гнулися,  журились!  

 іюля  [1860, С.-Петербург]


92=TỔNG GIÁM MỤC ĐẦY QUYỀN HÀNH ĐÃ CHẾT

Tổng giám mục đầy quyền hành đã chết
Những góa phụ cô đơn, xin đừng khóc
Còn anh, Askochensky hãy khóc to
Bằng những tiếng khóc nặng nề, cay cực
Và Khomyakov – người yêu nước Nga
Và người hay ghen tuông của Mạc Tư Khoa
Xin anh hãy khóc thật lớn
Và cả tạp chí “Người trò chuyện
Bằng một giọng chung, hãy mau thú nhận
Những lầm lỗi của mình.
Hãy khóc lên và hãy khóc lên!
[1860]


 92= Умре муж велій в власяниці

Умре муж велій в власяниці.
Не плачте, сироти, вдовиці,
А ти, Аскоченський, восплач
Воутріє на тяжкий глас.
І Хомяков, Русі ревнитель,
Москви, оте[че]ства любитель,
О юпкоборцеві восплач.
І вся, о Русская беседа,
Во глас єдиний ісповєдуй
Свої гріхи.
І плач! і плач!


17 іюня [1860 С.-Петербург]


93=TỤNG CA

Cho sấm sét xuống ngôi nhà Chúa Trời
Nơi chúng tôi đang đợi chờ cái chết
Chúng tôi chửi rủa và oán trách Ngài
Chúng tôi rủa nguyền và cất tiếng hát:
Hallelujah!

Nếu không vì Ngài chúng tôi đã yêu
Chúng tôi lấy chồng, chúng tôi lấy vợ
Nếu không vì Ngài đã sinh con trẻ
Chúng tôi đồng thanh cùng hát như sau:
Hallelujah!

Ngài lừa chúng tôi, lừa những người nghèo
Cướp bóc chúng tôi, làm cho khốn khổ
Nhưng mà chúng tôi cũng lừa cả Chúa
Những kẻ bị lừa cất tiếng hát theo:
Hallelujah!

Và dù chúng tôi xuống tóc đi tu
Nhưng mà chúng tôi, những người trẻ đẹp
Chúng tôi hát lên, chúng tôi nhảy nhót
Hát vang điệp khúc của bản tụng ca:
Hallelujah!
[1860]

  93= Гімн черничий

Удар, громе, над тим домом,
Над тим Божим, де мремо ми,
Тебе ж, Боже, зневажаєм,
Зневажаючи співаєм:
Алілуя!

Якби не Ти, ми б любились,
Кохалися б та дружились,
Та діточок виростали,
Научали б та співали:
Алілуя!

Одурив Ти нас, убогих.
Ми ж, окрадені небоги,
Самі Тебе одурили
І, скиглячи, возопили:
Алілуя!

Ти постриг нас у черниці,
А ми собі молодиці...
Та танцюєм, та співаєм,
Співаючи, примовляєм:
Алілуя!
20 іюня [1860, С.-Петербург]



94=TRÊN BỜ SÔNG ĐNHÉP

Trên bờ sông Đnhép
Cây phong cao vút lên
Giữa những cây liễu nhỏ
Giữa thông và kim ngân.

Nước dòng sông Đnhép
Rửa bộ rễ cây phong
Giống như người Cô-dắc
Cây phong đứng cúi mình.

Giống như người Cô-dắc
Không vợ con, gia đình
Không niềm vui, hạnh phúc
Đứng một mình cô đơn.

Cây phong như thì thầm:
“Ta cúi mình xuống nước”
Cô-dắc: “Ta lang thang
Ta đi tìm người đẹp”.

Còn thông và kim ngân
Cùng những cây liễu nhỏ
Giống như bao thiếu nữ
Vui vẻ và hát lên.

Say sưa và đắm chìm
Trong niềm vui hạnh phúc
Không một chút bận lòng
Chỉ đung đưa và hát.
[1860]

 94= Над Дніпровою сагóю

Над Дніпровою сагóю
Стоїть явор меж лозою,
Меж лозою з ялиною,
З червоною калиною.

Дніпро берег риє-риє,
Яворові корінь миє.
Стоїть старий, похилився,
Мов козак той зажурився.

Що без долі, без роди́ни
Та без вірної дружини,
І дружини і надії
В самотині посивіє!

Явор каже: — Похилюся
Та в Дніпрові скупаюся. —
Козак каже: — Погуляю
Та любую пошукаю. —

А калина з ялиною
Та гнучкою лозиною,
Мов дівчаточка із гаю
Вихожаючи, співають;

Повбирані, заквітчані
Та з таланом заручені,
Думки-гадоньки не мають,
В’ються-гнуться та співають.
24 іюня [1860, С.-Петербург]


95=TA TỪNG CHƠI VỚI NHAU

Ta từng chơi với nhau, cùng lớn lên
Rồi ta chia tay một thời tuổi trẻ
Ta bước ra đời mỗi người mỗi ngả
Rồi lại gặp nhau và đã kết hôn
Và lặng lẽ cùng nhau đi hết con đường
Bằng trái tim yêu của chung hai đứa
Bằng tấm chân tình đến ngày xuống mộ
Mà hai người sống ở cõi trần gian.

Ôi, chúng con xin lạy Chúa lòng lành!
Xin cho lớn lên, xin cho tươi tốt
Xin cho kết hôn, xin cho lên đường
Không cãi nhau trên con đường khó nhọc
Xin cho ánh sáng về nơi ấm áp
Không khóc lóc, không giận dữ, thở than
Cho xin hơi thở bất tử của tình
Xin ánh sáng mang về nơi cực lạc.
[1860]

 95= Росли укупочці, зросли

Росли укупочці, зросли;
Сміятись, гратись перестали.
Неначе й справді розійшлись!..
Зійшлись незабаром. Побрались;
І тихо, весело прийшли,
Душею-серцем неповинні,
Аж до самої домовини.
А меж людьми ж вони жили!

Подай же й нам, всещедрий Боже!
Отак цвісти, отак рости,
Так одружитися і йти,
Не сварячись в тяжкій дорозі,
На той світ тихий перейти.
Не плач, не вопль, не скрежет зуба —
Любов безвічную, сугубу
На той світ тихий принести.
25 іюня [1860, С.-Петербург]


96=CÂY DỪA CẠN NỞ HOA

Tặng N. Ya. Makarov
Kỷ niệm ngày 14 tháng 9

Cây dừa cạn nở hoa
Trải hết mình xanh tốt
Nhưng mà cơn giá rét
Làm chết những bông hoa.

Băng giá trùm khu vườn
Giết những bông hoa đẹp
Thương cây dừa tội nghiệp
Tiếc cho cả giá băng!
[1860]

 96= Барвінок цвів і зеленів

Н. Я. Макарову
на пам’ять 14 сентября

Барвінок цвів і зеленів,
Слався, розстилався;
Та недосвіт передсвітом
В садочок укрався.

Потоптав веселі квіти,
Побив... Поморозив...
Шкода того барвіночка
Й недосвіта шкода!
14 сентября [1860, С.-Петербург]


97=GỬI L.

Anh sẽ cất một mái nhà tranh
Và anh sẽ trồng một khu vườn
Sẽ ngồi xem, và anh đi lại
Trong cõi tĩnh lặng bình yên.
Và rồi trong tĩnh lặng, trong cô đơn
Anh sẽ say sưa trong giấc ngủ
Trong giấc mơ này anh sẽ thấy em
Và anh sẽ mơ thấy mẹ hiền
Những gì một thời từng quên lãng
Sẽ thấy hết trong mơ… và em!
Nhưng mà không… anh không thể ngủ
Bởi vì anh đã mơ thấy em
Em bước vào cõi yên lặng của anh
Và em đã gây nên điều tai họa
Em đốt thành tro cõi thiên đường.
[1860]
  

97= Л.


Поставлю хату і кімнату,
Садок-райочок насажу.
Поси́жу я і похожу
В своїй маленькій благодаті.
Та в одині-самотині
В садочку буду спочивати,
Присняться діточки мені,
Веселая присниться мати,
Давнє-колишній та ясний
Присниться сон мені!.. і ти!..
Ні, я не буду спочивати,
Бо й ти приснишся. І [в] мали́й
Райочок мій спідтиха-тиха
Підкрадешся, наробиш лиха...
Запалиш рай мій самотний.
27 сентября [1864 С.-Петербург]


98=TYTARIVNA-NEMYRIVNA

Tytarivna-Nemyrivna
Thêu chiếc khăn tay.
Và tay đưa nôi
Ru thằng con lính.

Tytarivna-Nemyrivna

Xinh đẹp kiêu sa
Nhưng nàng yêu lính
Yêu kẻ xa nhà.

Tytarivna-Nemyrivna ...

Dòng dõi cao xa

Ngày đêm chờ đợi
Lính trở về nhà.
[1860]

98= Титарівна-Немирівна

Титарівна-Немирівна
Гаптує хустину.
Та колише московщеня́,
Малую дитину.

Титарівна-Немирівна
Людьми гордувала...
А москаля-пройдисвіта
Нищечком вітала!

Титарівна-Немирівна...
Почесного роду...
Виглядає пройдисвіта
Москаля з походу.
19 октября [1860, С.-Петербург]


99=NGÀY TRÔI ĐI

Ngày trôi đi và đêm cũng trôi đi
Một nỗi lo trong đầu luôn dằn vặt
Nghĩ một điều rằng liệu có đến khi
Có giáo đồ khoa học và sự thật?
[1860]

 99= І день іде, і ніч іде 

І день іде, і ніч іде
І, голову схопивши в руки, 

Дивуєшся, чому не йде 

Апостол правди і науки?

5 ноября [1860, С.-Петербург]



100=NƯỚC CHẢY TỪ CÂY PHONG

Nước chảy từ cây phong
Theo mương ra thung lũng
Trên mặt nước cúi mình
Kim ngân hoa đỏ thắm.

Kim ngân hoa làm duyên
Còn cây phong tươi tốt
Những cây liễu xung quanh
Và bụi nho xanh mướt.

Nước chảy từ trong rừng
Chảy xuống ngọn đồi con
Đàn vịt đang bơi lội
Giữa dòng nước trong xanh.

Con vịt cái tung tăng
Cùng với con vịt đực
Tìm mồi và đuổi bắt
Trò chuyện với vịt con.

Nước chảy vào trong vườn
Làm thành một cái đầm
Cô gái đi lấy nước
Cô vui vẻ hát vang.

Ra khỏi mái nhà tranh
Mẹ cha dạo trong vườn
Vừa đi vừa trò chuyện
Về chàng rể của mình.
[1860]

100= Тече вода з-під явора

Тече вода з-під явора
Яром на долину.
Пишається над водою
Червона калина.
Пишається калинонька,
Явор молодіє,
А кругом їх верболози
Й лози зеленіють.

Тече вода із-за гаю
Та попід горою.
Хлюпощуться качаточка
Помеж осокою.
А качечка випливає
З качуром за ними,
Ловить ряску, розмовляє
З дітками своїми.

Тече вода край города.
Вода ставом стала.
Прийшло дівча воду брати,
Брало, заспівало.
Вийшли з хати батько й мати
В садок погуляти,
Порадитись, кого б то їм
Своїм зятем звати?
7 ноября [1860 С.-Петербург]


101=NHƯ CHƯA TỪNG GẶP GỠ

Ta gặp gỡ rồi kết tóc xe duyên
Rồi sinh sôi, nảy nở
Như hoa ở trong vườn
Rồi làm nhà. Chẳng biết đến đau buồn
Bầy trẻ nhỏ vui đùa giỡn
Rồi chúng lớn lên
Những đứa trai đi vào lính
Những đứa gái cũng bị lính mang đi
Còn chúng mình như có vẻ đã chia ly
Có vẻ như ta chưa từng gặp gỡ.
[1860]

101= Зійшлись, побрались, поєднались

Зійшлись, побрались, поєднались, 
Помолоділи, підросли. 

Гайок, садочок розвели 

Кругом хатини. І пишались, 

Неначе князі. Діти грались, 
Росли собі та виростали... 
Дівчаток москалі украли, 
А хлопців в москалі забрали, 
А ми неначе розійшлись, 
Неначе брались — не єднались.


5 декабря [1860, С.-Петербург]
  

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét