Thứ Tư, 14 tháng 6, 2017

Thơ T. Shevchenko Việt - Ukraina


60=HÔM QUA

Hôm qua em đi vào rừng sồi
Hái quả
Em gặp anh chàng xay lúa
Và em đã yêu người.
Chàng làm việc không nghỉ ngơi
Và hôn em khi chàng ngoảnh lại
Ôi, nụ hôn tuyệt vời.

Hôm qua em đi vào rừng
Hái nấm
Gặp một anh chàng trẻ lắm
Là thợ làm yên cương.
Chàng làm việc không ngừng
Và chàng ôm em âu yếm
Thật là thương.

Hôm qua em đi vào rừng
Lấy củi
Em gặp chàng thợ cối
Cặp lông mày đen.
Chàng mê mải đóng thùng
Chàng ôm em vào ngực
Người có cặp lông mày đen.

Mẹ hỏi cô con gái của mình
Cô con gái trẻ:
Ai sẽ là chàng rể
Mẹ muốn biết đó con?”
Chủ nhật này mẹ sẽ gọi tên
Cả ba chàng rể
Cả ba người mẹ sẽ gọi tên.
[1848]

60= У перетику ходила 

У перетику ходила 
По оріхи, 
Мірошника полюбила 
Для потіхи. 
Мельник меле, шеретує, 
Обернеться, поцілує 
Для потіхи. 

У перетику ходила 
По опеньки, 
Лимаренка полюбила, 
Молоденька. 
Лимар кичку зашиває, 
Мене горне, обнімає, 
Молоденьку. 

У перетику ходила 
Я по дрова 
Та бондаря полюбила, 
Чорноброва. 
Бондар відра набиває, 
Мене горне, пригортає, 
Чорноброву. 

Коли хочеш добре знати, 
Моя мати, 
Кого будеш попереду 
Зятем звати,— 
Усіх, усіх, моя мамо, 
У неділеньку зятями 
Будеш звати. 
[Друга половина 1848, Косарал]



61=DƯỜNG NHƯ

Dường như ngọn gió trên đồng

Làm những cây dương cúi xuống

Dường như cô gái dễ thương
Đem số phận mình trách mắng:
Có lẽ ta đem mi
Dìm vào biển cả
Bởi vì tại sao mi
Không cho ta yêu ai cả!
Như bao cô gái được hôn
Được ôm ấp, ve vuốt
Có điều gì với họ không
Ta đây chẳng biết.
Đến muôn đời không biết được. Mẹ ơi
Thật khủng khiếp khi sống ở trên đời
Mà tình yêu trong đời
Không bao giờ gặp cả”.
[1848]

61= Не тополю високую

Не тополю високую
Вітер нагинає, 

Дівчинонька одинока 

Долю зневажає: 

«Бодай тобі, доле, 

У морі втопитись, 
Що не даєш мені й досі 
Ні з ким полюбитись. 
Як дівчата цілуються, 
Як їх обнімають 
І що тойді їм діється — 
Я й досі не знаю. 
І не знатиму. Ой мамо, 
Страшно дівувати, 
Увесь вік свій дівувати, 
Ні з ким не кохатись».

[Друга половина 1848, Косарал]


62=VÀ THUNG LŨNG RỘNG

Và thung lũng rộng
Và cao nấm mồ
Và buổi chiều hoạ mi thanh vắng
Và những gì đã nói, đã mơ
Anh sẽ không quên bao giờ.

Chỉ một điều không kết tóc xe tơ
Mà chia tay như chưa gặp bao giờ
Nhưng mà trong khi đó
Những tháng năm tuổi trẻ
Đã trôi đi một cách mơ hồ.

Anh và em già đi trông thấy
Em - goá bụa, còn anh - cảnh tù đày
Không phải sống mà chỉ sống qua ngày
Và hai ta nhớ lại
Những ngày tháng đã vụt bay.
[1848]

62= І широкую долину  

І широкую долину, 
І високую могилу, 
І вечернюю годину, 
І що снилось-говорилось, 
Не забуду я. 

Та що з того? Не побрались, 
Розійшлися, мов не знались. 
А тим часом дорогії 
Літа тії молодії 
Марне пронеслись. 

Помарніли ми обоє — 
Я в неволі, ти вдовою, 
Не живем, а тілько ходим 
Та згадуєм тії годи, 
Як жили колись. 

[Друга половина 1848, Косарал]


63=BÊN VŨNG NƯỚC TRONG VƯỜN

Bên vũng nước trong vườn
Dừa cạn không còn mọc
Và thiếu nữ thanh tân
Không còn đi gánh nước.

Quanh bờ giậu trong vườn
Cây hoa bia khô héo
Bước từ mái nhà tranh
Cô không còn đi dạo.

Bên vũng nước trong vườn
Liễu nghiêng mình cúi xuống
Còn cô gái mắt đen
Cô đơn và buồn chán.

Cô khóc, cô đau đớn
Như con cá giãy lên
Và có tiếng cười vang
Từ bên nhà hàng xóm.
[1848]

63= На вгороді коло броду 

На вгороді коло броду 
Барвінок не сходить. 
Чомусь дівчина до броду 
По воду не ходить. 

На вгороді коло тину 
Сохне на тичині 
Хміль зелений, не виходить 
Дівчина з хатини. 

На вгороді коло броду 
Верба похилилась. 
Зажурилась чорнобрива, 
Тяжко зажурилась. 

Плаче, плаче та ридає, 
Як рибонька б'ється... 
А над нею, молодою, 
Поганець сміється. 

[Друга половина 1848, Косарал]




64=TÔI BUỒN MỘT MÌNH

Tôi buồn một mình trong cảnh tù đày
Không có ai đ đem lòng thổ lộ
Tôi đi tìm, mà cũng không biết nữa
đâu có người trò chuyện với tôi.

Tôi đi tìm khắp nơi, tôi tìm Chúa
Nhưng mà tôi có Chúa thế này sao
Cho tôi biết bao ngày tháng khổ đau
Bao cay đắng và còn hơn thế nữa.

Mùa hè của tôi âm u, không rực lửa
Mùa hè thiêng liêng thần thánh của tôi
Cuộc đời tôi cay đắng, lỡ làng trôi
Chẳng còn lại một chút gì đáng nhớ.

Mà tâm hồn tôi rất cần giải trí
Bởi thế, hồn tôi mong muốn, yêu cầu
Một lời êm ái nhưng chẳng thấy đâu
Như tuyết trắng trên đồng tha lê lết
Một cái xác hãy còn chưa chết hết.
[1848]

 64= В неволі, в самоті немає

В неволі, в самоті немає,
Нема з ким серце поєднать.
Та сам собі оце шукаю
Когось-то, з ним щоб розмовлять.

Шукаю Бога, а нахожу
Таке, що цур йому й казать.
От що зробили з мене годи
Та безталання; та ще й те,

Що літечко моє святе
Минуло хмарно, що немає
Ніже єдиного случаю,
Щоб доладу було згадать.

А душу треба розважать,
Бо їй так хочеться, так просить
Хоч слова тихого; не чуть,
І мов у полі сніг заносить
Неохолонувший ще труп.

[Друга  половина  1848, Косарал]


65=BỐ EM ĐÃ MẤT RỒI

Bố em đã mất rồi
Mẹ cũng không còn nữa
Chẳng ai khuyên, giúp đ
Chỉ mình em trên đời.

Đau khổ biết giấu đâu
Biết tìm đâu may mắn?
Em sẽ đi làm mướn
Chẳng biết sẽ thế nào?

Em sẽ đi vô rừng
Sẽ trồng cây rau húng
Nếu may mắn thì không
Bỏ ngôi nhà thấp vắng.

Nếu may mắn đến nhà
Em ở nhà nội trợ
Còn không, sẽ đi ra
Tìm may trong thiên hạ”.

Vạt rau húng trong rừng
Lớn lên và tươi tốt
Còn cô gái đi ra
Xấu đi và còi cọc.
[1848]

65= Ой умер старий батько  

«Ой умер старий батько 
І старенькая мати, 
Та нема кому щирої 
Тії радоньки дати. 

Що мені на світі, 
Сироті, робити? 
Чи йти в люде жити, 
Чи дома журитись? 

Ой піду я в гай зелений, 
Посаджу я руту. 
Якщо зійде моя рута, 
Остануся тута, 

Прийде милий в мою хату 
Хазяїнувати. 
А як же ні, то я піду 
Доленьку шукати». 

Посходила тая рута, 
В гаї зеленіє. 
А дівчина-сиротина 
У наймах марніє. 

[Друга половина 1848, Косарал]


66=CHÀNG KỴ SĨ CỦA EM

Chàng kỵ sĩ của em
Không về từ chiến trận
Có điều gì em thương
Có điều chi lo lắng?

Áo zupan chàng ngắn
Hàng ria mép chàng đen
Tên Masha dễ mến
Nhưng không hẳn tiếc thương.

Mà sắc đẹp phai tàn
Chẳng còn ai lấy em.
Còn khi đi ra phố
Các cô gái cười vang
Gọi em là kỵ sĩ.
[1848]

 66= Не вернувся із походу

Не вернувся із походу
Гусарин- москаль.
Чого ж мені його шкода,
Чого його жаль?

Що на йому жупан куций,
Що гусарин чорноусий,
Що Машою звав?
Ні, не того мені шкода;

А марніє моя врода,
Люде не беруть.
А на улиці дівчата
Насміхаються, прокляті,
Гусаркою звуть.
[Друга  половина  1848, Косарал]


67=NĂM THÁNG CỦA TÔI QUA NHANH

Năm tháng của tôi qua nhanh
Như những người buôn đi trên đồng
Bỏ lại những cây cột số.
Và trên những trang giấy nhỏ
Tôi viết ra những dòng thơ
Hết quyển này đến quyển kia
Để xua đi những éo le phận số
Và đúc thêm xiềng xích cho mình
(Vì điều này người ta biết rõ)
Nhưng mặc lệnh cấm kia của họ
Tôi không thể nào sống thiếu thơ
Tôi vẫn viết đều đặn hai năm qua
Và bây giờ năm thứ ba vẫn thế.
[1849]

 67= Неначе степом чумаки

Неначе степом чумаки
Уосени верству проходять,
Так і мене минають годи,
А я й байдуже. Книжечки
Мережаю та начиняю
Таки віршами. Розважаю
Дурную голову свою,
Та кайдани собі кую
(Як ці добродії дознають).
Та вже ж нехай хоч розіпнуть,
А я без вірші не улежу.
Уже два года промережав
І третій в добрий час почну.
[Перша половина 1849, Косарал]


68=MÂY BƠI THEO MẶT TRỜI

Mây bơi theo mặt trời
Trải một màu đỏ tươi
Và gọi mặt trời đi ngủ
Trong màu xanh biển cả
Và choàng tã lót màu hồng
Như cho đứa bé trong đêm.
Mắt vui. Dù trong phút chốc
Dù chỉ trong phút chốc
Con tim được nghỉ ngơi
Và được trò chuyện với Ngài…
Còn màn sương như giặc
Màn sương che kín mít
Cả biển, cả mây hồng
Và bóng tối sau lưng
Màn sương đem trải rộng
Thành bóng đêm câm nín
Và đem vây lấy cõi lòng
Mong về một cõi trần gian
Như đang mong chờ mẹ đẻ
Những đứa con.
[1849]

68= За сонцем хмаронька пливе

За сонцем хмаронька пливе,
Червоні поли розстилає
І сонце спатоньки зове
У синє море: покриває
Рожевою пеленою,
Мов мати дитину.
Очам любо. Годиночку,
Малую годину
Ніби серце одпочине,
З Богом заговорить...
А туман, неначе ворог,
Закриває море
І хмароньку рожевую,
І тьму за собою
Розстилає туман сивий,
І тьмою німою
Оповиє тобі душу,
Й не знаєш, де дітись,
І ждеш його, того світу,
Мов матері діти.
[Перша половина 1849, Косарал]


69=CON ĐƯỜNG TRỞ VỀ NHÀ

Gai góc và gian khó
Con đường trở về nhà
Rõ một điều, muôn thuở
Tôi bỏ Ukraina.
Không còn bao giờ nữa
Tôi được trở về nhà?
Đành đọc những ý nghĩ
nơi chốn ngục tù
Đời thật là gian khó
Không tìm ra ai cả
Đem nỗi lòng sẻ chia!
Thà rằng ông trời kia
Đừng đem cho phận số
Thà rằng không bao giờ!
Không bao giờ, bao giờ
Thà không cho gắn bó
Với con tim thiếu nữ.
Ngày và đêm trôi qua
Ngày đêm đi vội vã
Ở nơi chốn ngục tù
Niềm vui không hề có
Đời cứ thế đi qua
Hững hờ nơi xứ lạ
Không tìm ra ai cả
Không ai kết bạn bè
Không có ai chia sẻ
Dù lời nói qua loa
Khổ thân con tim trẻ
Với ý nghĩ mịt mù
Sẽ chết nơi xứ lạ
Sẽ chết ở nơi xa.
Biết lấy ai chia sẻ
Dù một lời cầu Chúa
Xin cầu nguyện Chúa Trời!
Xin Ngài cho phép tôi
Được ngắm nhìn lần nữa
Nhân dân bị đọa đày
Và Ukraina đau khổ.
[1849]

69= Заросли шляхи тернами

Заросли шляхи тернами
На тую країну,
Мабуть, я її навіки,
Навіки покинув.
Мабуть, мені не вернутись
Ніколи додому?
Мабуть, мені доведеться
Читати самому
Оці думи? Боже милий!
Тяжко мені жити!
Маю серце широкеє —
Ні з ким поділити!
Не дав єси мені долі,
Молодої долі!
Не давав єси ніколи,
Ніколи! ніколи!
Не дав серця молодого
З тим серцем дівочим
Поєднати! — Минулися
Мої дні і ночі
Без радості, молодії!
Так собі минули
На чужині. Не найшлося
З ким серцем ділитись,
А тепер не маю навіть
З ким поговорити!..
Тяжко мені, Боже милий,
Носити самому
Оці думи. І не ділить
Ні з ким, і нікому
Не сказать святого слова,
І душу убогу
Не радовать, і не корить
Чоловіка злого.
І умерти!.. О Господи!
Дай мені хоч глянуть
На народ отой убитий,
На тую Украйну!
[Перша  половина  1849, Косарал]

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét